Trên con đường huyền thoại - Kỳ cuối: Ở lại Trường Sơn

Thứ năm - 26/11/2015 09:46
Duyên số đã gắn những mảnh đời, những phận người từng chung bước trên con đường huyền thoại, thành vợ thành chồng. Câu chuyện và ký ức của họ là đoạn kết viên mãn của cung đường Hồ Chí Minh qua Quảng Nam.
Trên con đường huyền thoại - Kỳ cuối: Ở lại Trường Sơn

Trên con đường huyền thoại - Kỳ cuối: Ở lại Trường Sơn

Trên con đường lịch sử này, họ đã gặp nhau và nên duyên vợ chồng. Mỗi người có lý do riêng để ở lại như một sự sắp đặt mặc định của số phận. Và tình yêu của họ thì vẫn sắt son cho đến tận bây giờ. Đó là chuyện tình của anh công nhân cầu đường với cô gái Cơ Tu, hay chuyện anh bưu tá người bản địa đều đặn ngược xuôi đưa thư, rồi nên duyên với cô công nhân cầu đường. Họ đã cùng nhau ở lại.

Trong ngôi nhà mang họ mẹ

Cung đường qua làng Atép 2 (xã Bha Lêê, Tây Giang) ướt rượt trong màn mưa mờ đục. Thi thoảng chỉ thấy  sợi khói vương vất trên những mái nhà. Đã qua mùa rẫy. Đàn ông thì rủ nhau uống rượu, khề khà bên bếp lửa ấm. Đàn bà bó gối nhìn ra ngoài khung cửa nhà sàn. Khước từ lời mời gọi của thanh niên trong làng, anh Nguyễn Văn Tư lặng lẽ mang gùi, xách dao đi kiếm rau cho heo. Vợ anh, chị Alăng Thị Đối vừa ru cậu con út ngủ, vừa nhắc con gái học bài. Ngôi nhà nhỏ nép mình bên góc núi, có phần tách biệt với những cuộc rượu dài bên kia. Chị Đối nói như phân trần với chúng tôi, rằng không phải vợ chồng mình xa cách với dân làng, mà bởi chồng chị là người ham làm. Chỉ những dịp vui chung như cưới hỏi, mừng lúa mùa hay hội họp, anh Tư mới chịu nghỉ ngơi. “Anh làm suốt ngày. Hết chuyện này lại tìm chuyện khác để làm, nói nghỉ cũng không chịu. Hết làm rẫy thì trồng rau, dọn vườn. Làm miết” - chị Đối cười.

“Gia cảnh khó khăn, lại cách xa hơn nghìn cây số, thú thật lúc đó mình chỉ có tấm lòng thôi. Mình ở lại làng, ai nhờ gì cũng làm, chuyện gì cũng giúp nên dân làng thương. Bên nhà vợ đồng ý cho mình cưới Đối, cũng chẳng thách cưới như mấy nhà khác” - anh Tư kể. Vợ chồng lấy nhau, cất căn nhà nhỏ cạnh đường, nơi đã đưa họ đến với nhau và nên duyên. Quanh nhà, cây trái đã lên xanh…

Cưới nhau được gần 10 năm, “tài sản” lớn nhất của hai vợ chồng là 3 đứa con, đứa lớn 8 tuổi, đứa út chưa đầy 2 tuổi. Ba chị em đều mang họ mẹ. Hỏi thì anh Tư nói rằng mình đã là người của làng, cùng sống trong làng thì việc mang họ mẹ cũng là điều bình thường. “Mình là người Mường ở Lương Sơn, Hòa Bình. Ở quê mình con vẫn theo họ cha. Nhưng các con mình ở đây, mình nghĩ cho con mang họ mẹ sẽ gần gũi với làng, với nơi các con được sinh ra. Hơn nữa, mình được bên vợ giúp đỡ, cưu mang từ khi còn là công nhân cầu đường ở đây nên lấy họ mẹ cho con cũng là để ghi nhớ ơn của nhà vợ, của làng với mình” - anh Tư tâm sự.

Ngày anh Tư đặt chân đến mảnh đất Atép này, núi rừng còn hoang vu lắm. Bản làng chỉ là những nóc nhà bám víu lấy mảnh đồi nhỏ, xập xệ mái tranh. Xong tuyến đường Hồ Chí Minh qua Thạnh Mỹ, anh theo đội công trình đến Atép (xã Bha Lêê, Tây Giang) làm đường xuyên qua Aroàng (A Lưới, Thừa Thiên Huế). Từ những công trường ngổn ngang, đường được mở, dân làng càng quý “bạn miền xuôi” đến mở đường, hễ cứ có sắn, có bắp là gùi đem cho. Trong những lần đó, anh Tư gặp vợ, cô thiếu nữ Cơ Tu bẽn lẽn mỗi lần cùng dân làng sang thăm đội công trình. Tình yêu lớn dần, bạn bè lần lượt theo công trình đi nơi khác, riêng anh Tư nhất mực đòi ở lại để theo chị. Lúc đầu, dân làng còn dè dặt bởi chưa một ai lấy vợ, lấy chồng là người xứ khác, kể cả chị. Anh thuyết phục bằng cách… tự học tiếng Cơ Tu, tìm cách nói chuyện, cùng ăn, cùng làm với dân làng. Dân tin, nhưng theo luật tục, muốn cưới xin phải có người mai mối, nộp lễ vật thách cưới theo yêu cầu của nhà gái. “Gia cảnh khó khăn, lại cách xa hơn nghìn cây số, thú thật lúc đó mình chỉ có tấm lòng thôi. Mình ở lại làng, ai nhờ gì cũng làm, chuyện gì cũng giúp nên dân làng thương. Bên nhà vợ đồng ý cho mình cưới Đối, cũng chẳng thách cưới như mấy nhà khác” - anh Tư kể. Vợ chồng lấy nhau, cất căn nhà nhỏ cạnh đường, nơi đã đưa họ đến với nhau và nên duyên. Quanh nhà, cây trái đã lên xanh…

Chọn lại quê hương

Bà Mai Thị Minh (ở thôn Bhơ Hôồng 1, xã Sông Kôn, Đông Giang) nói với chúng tôi rằng, vợ chồng bà phải chọn lại quê hương. Chiến tranh cướp mất người thân của chồng. Còn bà, khi lấy ông, đã không thể trở về quê cũ khi định kiến còn trói chặt lấy thân phận của một người phụ nữ miền xuôi lấy chồng “không phải người Kinh”. Nhưng bà không hối tiếc vì điều đó. “Tôi không chọn số phận cho mình. Tôi chỉ chọn người mình yêu thương”.

Vợ chồng anh Nguyễn Văn Tư hạnh phúc trong căn nhà bên đường Hồ Chí Minh, nơi anh quyết định chọn làm quê hương thứ hai.
Vợ chồng anh Nguyễn Văn Tư hạnh phúc trong căn nhà bên đường Hồ Chí Minh, nơi anh quyết định chọn làm quê hương thứ hai.

Mười bảy tuổi, bà Minh (quê Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) tham gia thanh niên xung phong, rồi đi mở đường ở các cánh rừng phía tây xứ Quảng. Chồng bà là Alăng Rơi, quê tận khu 7 (các xã giáp biên giới Lào), người thân đã mất trong chiến tranh, ông xin về làm bưu tá cho huyện Hiên (cũ). Đơn vị của bà đóng chân ở gần thị trấn P’rao, phục vụ tu sửa đường Hồ Chí Minh. Trong những lần ngược xuôi đưa công văn, thư từ, ông Rơi gặp bà qua lời giới thiệu của người quen trong đơn vị. Hai người yêu nhau. Nhưng gia đình bà Minh không chấp thuận. Bà dằn vặt giữa hai lựa chọn. Một là bỏ ông, bỏ núi. Hai là ở lại, và không bao giờ được trở về nữa.

Bà chọn ông và núi.

Ngày đám cưới, chỉ có sự hiện diện của bạn bè đơn vị. Ông vẫn tiếp tục làm bưu tá, bà ngày ngày ra công trường, mãi cho đến tuổi về hưu. Vợ chồng ông bà dựng căn nhà nhỏ ở nơi họ gặp nhau. “Mãi đến khi ba tôi mất, anh Rơi mới được về nhà vợ” - bà Minh tâm sự.

Hai cô con gái của ông bà nay đã lấy chồng. Dịp lễ tết, căn nhà nhỏ của ông bà lại rộn ràng tiếng đùa vui của con cháu. Sống cùng với dân làng, bà thạo tiếng Cơ Tu như người bản địa, còn con đường trở thành kỷ niệm chung của hai ông bà. Bà bảo, không có con đường thì chưa chắc ông bà đã được gặp nhau. Còn ông thì nói vui rằng “bà mở đường để… tìm ông”. Từ sau lần ông bà lấy nhau, trong đơn vị cũng có khá nhiều “đôi” ở hai miền xuôi - ngược nên vợ nên chồng. “Nhiều người trong đơn vị cũ vẫn đùa rằng nhờ vợ chồng tôi lấy nhau đã khích lệ cho những cặp đôi khác trong đơn vị. Tính ra cũng hơn chục đám cưới như vợ chồng tôi trong thời đó rồi” - bà Minh nói.

Ở lại vùng cao, bà Minh, hay anh công nhân Nguyễn Văn Tư có thêm quê hương thứ hai cho mình. Con đường đã gắn số phận của họ với một nửa của mình, với Trường Sơn đến hôm nay và những ngày sau nữa. Có thể, cuộc sống còn chưa đủ đầy, nhưng chúng tôi nghe được niềm hạnh phúc trong lời kể của họ. Có những hoài niệm, những mơ ước, có cả nghị lực và niềm tin để họ ở lại với Trường Sơn, viết tiếp những trang đời mình.

Còn nhiều, rất nhiều những gia đình như anh Tư, bà Minh cất giữ cho mình những chuyện tình rất nên thơ, với chứng nhân là con đường lịch sử Hồ Chí Minh…

THÀNH CÔNG -  ALĂNG NGƯỚC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đang truy cậpĐang truy cập : 32


Hôm nayHôm nay : 1096

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 69087

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2400104

Tiêu điểm