Trang chủ 
 Top 10 tin 
CON TEM
Lá thư đoạt giải nhất cuộc thi viết thư Quốc tế
Hội nghị tổng kết công tác Đoàn - Đội trường học
QUẢNG NAM: Thống nhất giao ngành Điện tiếp nhận lưới điện hạ áp dự án RE2.
Khi người trẻ được tin
Từ 'cây' sáng kiến tới học siêu tốc
Đ/c Ngô Năm được bầu vào chức danh Phó Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp Quảng Nam khóa II
Đoàn TN Công ty Cao su Quảng Nam chào mừng Quốc khánh và Đại hội Đảng các cấp
CÔNG TY ĐIỆN LỰC QUẢNG NAM: 10 Năm xây dựng “Đơn vị cơ sở có đời sống văn hóa tốt”
“VietinBank Quảng Nam – Tri ân khách hàng”
 Thống kê 
 Khách: 002
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 002
 Hits 000198450
Tin tức » Văn hóa - Xã hội 10.09.2010 13:43
TIỆM RƯỢU
09.03.2010 00:56

Xem hình
Với tôi, Tiệm Rượu là cái tên gợi ghê gớm. Cái tên gọi này, tự thân nó đã gợi lên cái mùi thoang thoảng thân quen quyến rũ..

...Với các tửu đồ, lại mặc định một cái nhìn mơ hồ, xa xăm nhưng có vẻ như cụ thể về đất và người chốn ấy, như bản thân rượu...

Có lần đứng trên cầu Câu Lâu nhìn lên, tự dưng tôi thấy cồn đất nổi ở giữa sông có dáng như con bò đang nằm nhai cỏ, cái u bò nống về phía Nam Phước, còn đầu thì chúi về hướng Đông Khương của Điện Bàn. Cách nhau con sông mà phía Điện Bàn thì nổi tiếng với thịt bò tái bò thui, bên Duy Xuyên thì thờ thần bò Nandin tại Mỹ Sơn, lại nhớ Nguyễn Trung Bình trong bài thơ “Cỏ Mỹ Sơn” có câu thơ thật hay “con bò đá nằm nhai ký ức”. Chuyện đó, hình như nội hàm nó đã chuyên chở sức nặng tầng vỉa văn hóa mà sông mẹ Thu Bồn đã ban tặng cho những con dân xứ sở. Doi đất càng ngày càng to ra ấy, có tên là Tiệm Rượu.

Tiệm Rượu là xóm thuộc làng Lang Châu, thị trấn Nam Phước. Tôi nhớ lần kè bờ, tre pheo ít lắm, bây giờ quay lại u sầm ngợp kín đường đi, lạ luôn cái kẻ một thời hay đi về chốn đó, là tôi. Đi học cấp 3 thì đạp xe về hướng chợ Đình, đâm ra Tiệm Rượu chơi. Thời đại học thì vài tháng đáo ra một lần, chỉ để xin tiền giúp anh bạn cùng lớp có nhà ở đây. Ra trường đi làm, chuyện cơm áo cuốn đi, quay lại tìm thì mẹ anh bạn nhớ mặt mà quên mất tên. Bắt đầu từ đầu cầu Câu Lâu, kẻ một đường thẳng lên, qua Cầu Đen giáp Điện Phong, lại chạy gần sát vào chợ Đình, là đất Tiệm Rượu. Trong ký ức của cụ Phùng, bậc cao niên nhất thôn này, Tiệm Rượu ngày xưa tấp nập, phồn thịnh. Không biết trước đó nó có tên gì, nhưng đời ông nội cụ Phùng, khi Pháp cho ra đời cái lò SICA tại đây, thì cái tên đó ra đời gán luôn cho cả xóm này. Họ dựng nhà máy rượu hoành tráng, chu vi tường thành rộng chừng 1ha, trong đó nhà giấy (văn phòng) khoảng 0,5ha; nơi chứa rượu khoảng 1 ha, còn trường rượu (nơi nấu) rộng khoảng 2,5ha, tường cao 2,5ha. Công nhân đông đến cả ngàn, chủ yếu lấy người tại chỗ, ông nội cụ làm chức Cai cho Pháp quản đám công nhân. 

Tôi nhắc Á tế Á ca về cái trò độc quyền rượu chè hồi đó “rượu ta nấu nó cho rượu lậu”, ông gật, rằng khi nhà máy đó mọc lên thì chẳng ai nấu rượu nữa. Chủ là một ông người Pháp, vợ người Việt nhưng không rõ quê đâu, họ có hai đứa con trai, một đứa tên là Robert. Khi Nhật-Pháp đánh nhau năm 1945, họ bỏ đi mất. Đi cùng với sự ra đời của cái tiệm rượu đó, là trang huy hoàng của xứ đất này. Mẹ của anh bạn tôi, trong ký ức xa mù của bà, vẫn còn nhớ cái thời sao mà đông vui. Tại đây có chợ Củi. Cây gỗ, lâm sản vật từ trên ngõ Nông Sơn xuôi về, tấp vào buôn bán. Cá mắm ngõ Cửa Đại lên. Trên bến dưới thuyền, lúc đông đúc nhất cả mấy trăm chiếc ghe. Thời đó mà tại đây đã có máy cưa, máy may, nhiều người giàu sụ do buôn bán. Giàu nhất phải nói là ông Luyện. Đất của ông cả mấy trăm mẫu tậu ở xứ đồng Duy Trung, cho người ta thuê lại. Đường sá phong quang, xe ô tô chạy lọt, tráng nhựa hẳn hoi, bắt đầu từ ngõ cũ vào xóm bây giờ, chạy thẳng ra đầu cầu Câu Lâu, ấy là nói cầu cũ, chứ cầu sau này là Mỹ xây thấp xuống hạ lưu một tí, rồi quần lên trường rượu. Hai bên nhà ngói san sát. 

Tôi ngồi với cụ Phùng trong ngôi nhà gỗ. Chỗ này đây cách cái thôn Tiệm Rượu xưa đến cả cây số. Doi đất xanh ngút cỏ và khoai, bắp giữa sông kia, bây giờ khai quật xuống, có khi gặp cố nhân đấy. Ngày trước, đứng ở bờ ni gọi ới sang Cầu Mống rủ qua nhậu, nghe được hết. Thương hải tang điền, bao lớp sóng phế hưng đã đẩy cái làng cũ biệt tích sa mù, nhưng chuyện người thì còn đó. Sau lưng nhà cụ có cái lăng ông sư Tạo.  Chuyện rằng, thời Duy Tân hay Thành Thái gì đó, có nhà sư tên Tạo, rất giỏi y thuật, thần thông phép tắc. Ông ăn chuối, vứt vỏ đi, ai đau nhặt được cái vỏ lấy về làm thuốc, uống khỏi bệnh liền. Pháp ghét ông vì ông hay cho thuốc người nghèo, lại nghi ông khoác áo lương y mà âm mưu tạo phản, bèn bắt nhốt vào cũi sắt, dìm xuống sông chợ Củi. Bảy ngày sau, từ cái cũi ấy, bọt khí vẫn sôi lên, ai đau, đến múc nước chỗ đó uống cũng khỏi. Pháp lôi lên, ông nói muốn giết tôi phải bỏ cũi đồng. Ông chết, dân Tiệm Rượu và Đông Khương lặn xuống giành xác. Phần thắng thuộc về Tiệm Rượu. Bà con xây mộ đàng hoàng. Hồn ông nhập vào cây mốc bằng lim đặt giữa làng này với làng Xuyên Đông. Bà con đến xin thuốc, dạt hết vỏ, cây chết. Hồn ông lại nhập về mộ, cây lá quanh mộ cũng bị vặt bởi người gặp nạn mà xin ở thần uy của ông. Lở sông, bà con phải dời vào một đoạn. Đến thời đánh Mỹ, ca-nông của địch nện ầm làng nhưng chỉ rớt quanh chứ chẳng có trái nào lọt vào được khu mộ. Giải phóng ra, mộ còn nguyên, nhưng chẳng chịu nổi thủy thần phải dời xịch vào đến lần thứ ba. Bây giờ rằm mồng một bà con vẫn hương khói, đến mùa thi cử cha mẹ cũng đến cầu xin cho con. Chuyện nhuốm màu huyền tích ấy, tôi xem như mảng chớp lóe dựng nên hồn cốt của một cái xóm mà số phận của nó cứ nổi nênh như bao lớp sóng Thu Bồn, chở trên đó những phận đời mà hành  trình của họ mấp mô dập dềnh như đất mẹ.

alt
Cụ Phùng bên mộ sư Tạo.

Thời Pháp, ông nội bạn tôi qua làm lính thợ bên đó. Hôm trước, báo có đăng tin Pháp tuyên dương công trạng cho những lính thợ Đông Dương thời đó đã có công xây dựng Pháp quốc. Cũng bị liệt là đi theo giặc, nhưng phải chẻ hoe ra rằng, những lính thợ ấy cũng phận cu li làm tôi tớ thợ thuyền thôi chứ chẳng phải hổ báo gì. Ông đó có vợ và con bên này, sang Pháp gá duyên với một bà đầm, sinh hạ được ba người con. Đầu thập niên 70 thế kỷ XX thì ông chết. Hết. Mấy người con kia tất nhiên không biết tiếng Việt, chẳng có khái niệm quê quán và cũng chưa từng đọc… Quê nội của Võ Quảng bao giờ. Kẻ bên ni, người bên kia, tuyệt mù tin tức, coi như chưa từng biết rằng có nhúm ruột với nhau đang đập, rằng có chút cốt nhục của thân phụ đang nằm nơi đất khách quê người. Sự đời chẳng ngờ, cách đây 3 năm, người con trai lớn bây giờ đã trở thành một ông già tìm về Việt Nam với vỏn vẹn dòng tin tức từ di chúc người cha để lại: quê quán Lang Châu - Duy Xuyên - Quảng Nam, có con trai là H. Ông về khách sạn tại Hội An, dò hỏi, lại gặp đúng một người biết cái làng trên. Xe chạy về, ông vào dò hỏi nhà anh trai, đúng ngay nhà con chú bác với ông H. Buổi tao ngộ diễn ra trong bàng hoàng nước mắt. Người đàn ông Pháp dòng máu Tiệm Rượu ấy buông một câu đặc sệt Việt Nam: “Ba đã dẫn đường cho em về tìm anh!”.

Tôi định lần nào đó rà lại tên gọi của những xứ đất quê mình, xem thử nó sẽ dẫn dụ đến đâu những câu chuyện đời đất đời người, bởi có lần ngồi nhẩm những địa danh có từ thời cha ông đi mở cõi khẩn hoang, thấy óng ánh những sắc màu, những hơi thở gan ruột bầm nát bàn tay vỡ đất, lật đá, trồng cây. Rồi cũng muốn có thống kê đối sánh bao nhiêu tên đất tên làng có gốc chữ Hán và chữ Nôm. Bởi tôi vẫn cho rằng, tên xã do kẻ có chữ đặt ra, chứ tên xóm là được khai sinh từ đám thợ cày. Mà kỳ lạ, cái tên quê kiểng lại đánh động những cơn buồn vỗ sóng từ những kẻ tha hương. Lại để ý thấy, những người có vẻ thành danh chữ nghĩa, lý lịch trích ngang khi trình làng bao giờ cũng khai sinh ra ở xóm nào đó, như kiểu “cha mẹ tôi là nông dân, tôi sinh ra ở nông thôn” như Nguyễn Huy Thiệp từng viết.

Cụ Phùng nói, “cuộc” đất ni lạ lắm, dân bản địa cũng người xa xứ đến đây như ông On, ông Xá, lập nghiệp vài năm, giàu sụ, nhưng rồi ai cũng chỉ được một đời. Dân Tiệm Rượu xưa chỉ giỏi chơi bời và buôn bán  chứ chẳng ai làm ruộng. Cốt cách thị dân hình như có từ trong máu. Chợ Củi, sau giải phóng trôi mất ra sông, bà con họp chợ lại nhưng xã không cho. Đem phong thủy ra mà luận, thì nó bị thủy lấn thổ, nên tán, hết tụ rồi. Bây giờ thì nó cũng như bao xóm làng khác, áo cơm quăng quật chứ phải chuyện chơi. Nhưng tôi thì nhác thấy vậy nhưng không phải vậy: cái kiểu phơn phớt làm ăn, chơi bời còn đó. Ở đời mấy người giỏi chơi. Thiên hạ chơi không được, không dám chơi nên dựng hàng rào dè bỉu với kẻ ham chơi. Tỉ như anh bạn tôi vậy. Túng nghèo đâu không thấy, cho dù con khóc nợ đòi, phong lưu vẫn cứ là nòi phong lưu. 

Sóng vỗ theo thuyền từ Cửa Đại lên, đẩy gió đánh bạt vào vườn bắp. Cụ Phùng dẫn tôi ra mộ sư Tạo nằm sát bờ kè. Bao lớp sóng dồi vẫn không làm mất cặp câu đối trong mộ “Diệu pháp luyện thành thiên bất nhị - cứu dân độ thế quốc vô song”. Lẫn trong lớp sóng cồn, hình như có  người ới nhau qua sông, ngồi bệt xuống giữa cồn mà bày cuộc rượu, uống say vỗ chai mà ca, rằng ở đời có được cái tên cho thiên hạ nhớ, lắm khi cũng nhờ rượu…

LÊ TRUNG VIỆT



(Theo tinhdoanqnam.vn)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những bản tin khác:



Lên đầu trang

Bản quyền ©2006 - 2008 bởi Đoàn khối Doanh nghiệp Quảng Nam. Chịu trách nhiệm: BTV Đoàn khối Doanh nghiệp Quảng Nam
Địa chỉ: 52 Hùng Vương, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam
Email: doankhoidn@gmail.com - Điện thoại: 0510 2211221 - Fax: 0510.3812767
Website sử dụng mà nguồn mở nuke v2.0, sử dụng theme DK1